Kỹ thuật siêu âm trong chẩn đoán bệnh

Kỹ thuật siêu âm trong chẩn đoán bệnh

Siêu âm là một phương pháp khảo sát hình ảnh , bằng cách cho một phần của cơ thể tiếp xúc với sóng âm có tần số cao để tạo ra hình ảnh bên trong cơ thể . Kết quả siêu âm , cũng như : X quang , xét nghiệm , nội soi , các liệu trình thăm dò .... Siêu âm chỉ là một kết quả thăm khám phi lâm sàng để các thày thuốc dựa vào đó để chẩn đoán bệnh chứ không phải là cứ siêu âm là tìm ra bách bệnh

I - ĐẠI CƯƠNG :

Siêu âm là một phương pháp khảo sát hình ảnh , bằng cách cho một phần của cơ thể tiếp xúc với sóng âm có tần số cao để tạo ra hình ảnh bên trong cơ thể . Kết quả siêu âm , cũng như : X quang , xét nghiệm , nội soi , các liệu trình thăm dò .... chỉ là một triệu chứng để các thày thuốc chẩn đoán bệnh .

Siêu âm được sử dụng nhiều trong thăm khám chẩn đoán và điều trị bệnh , nó giúp các bác sĩ có thể nhìn thấy rõ hình ảnh cụ thể các cơ quan nội tạng và bên trong các cơ quan nội tạng . Tuy nhiên , sóng siêu âm bị cản trở bởi không khí do đó việc khảo sát dạ dày, ruột non, ruột già và phổi bị giới hạn , khí ở ruột non có thể ngăn không quan sát được những cấu trúc nằm sâu hơn , khí ở các phế nang có thể làm mất sóng âm . Sóng âm khó xuyên thấu được xương do đó chỉ có thể nhìn thấy được mặt ngoài của các cấu trúc xương chứ không nhìn được những gì nằm bên trong .

Do hình ảnh siêu âm được ghi nhận theo thời gian thực nên nó có thể cho thấy hình ảnh cấu trúc và sự chuyển động của các bộ phận bên trong cơ thể kể cả hình ảnh dòng máu đang chảy trong các mạch máu .

Siêu âm thế hệ ban đầu tạo ra hình ảnh các lát cắt mỏng và phẳng của cơ thể . Thế hệ sau , Siêu âm 3 chiều ( 3D ) tạo ra hình ảnh 3 chiều.( hình ảnh nổi ) . Siêu âm 4 chiều ( 4D ) là siêu âm 3 chiều có ghi nhận sự chuyển động . Siêu âm Doppler là một kỹ thuật siêu âm đặc biệt giúp đánh giá dòng máu chảy trong các mạch máu, bao gồm các động mạch và tĩnh mạch chính của cơ thể ở bụng, cánh tay, chân, và cổ .

II CẤU TẠO CỦA MÁY SIÊU ÂM :

Máy siêu âm bao gồm : Bộ điều khiển gồm có máy vi tính , màn hình và đầu dò . Đầu dò là một thiết bị phát sóng siêu âm vào cơ thể rồi sau đó thu lại sóng dội ngược từ các mô trong cơ thể . Các sóng thu được qua máy vi tính sử lý hiển thị thành hình ảnh ở màn hình . Hình ảnh được tạo ra dựa vào biện độ ( độ mạnh ) , tần số , và thời gian tín hiệu âm quay trở về đầu dò từ cơ thể người bệnh.

Nguyên tắc hoạt động

Khi sóng âm va vào một vật thể, nó sẽ phản âm trở lại, bằng cách đo những sóng dội này, người ta có thể xác định được độ xa cũng như kích thước, hình dạng và mật độ của đối tượng được tham dò .

Trong siêu âm , đầu dò vừa phát sóng âm vừa ghi nhận sóng dội trở lại , những tín hiệu sóng thu về được máy tính đo đạc và thể hiện thành những hình ảnh theo thời gian thực ở màn hình , một hoặc nhiều khung hình sẽ được chụp lại làm hình tĩnh .

III : CÔNG DỤNG CỦA SIÊU ÂM TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH

1: Siêu âm giúp chẩn đoán được nhiều loại bệnh khác nhau và tiếp cận xác định mức độ những tổn thương của các cơ quan khi bị bệnh . Siêu âm là một khảo sát y học không xâm lấn ( không gây chảy máu )

2: Siêu âm là cách hữu ích để kiểm tra hình thể , những dấu hiệu bất thường của nhiều cơ quan bên trong cơ thể, bao gồm những cơ quan sau :

* Tim và các mạch máu, bao gồm động mạch chủ bụng và những nhánh chính của nó.

* Gan

* Túi mật

* Lách

* Tụy

* Thận

* Bàng quang

* Tử cung, buồng trứng và trẻ chưa sinh (thai nhi) ở những thai phụ.

* Mắt

* Tuyến giáp và tuyến cận giáp

* Tinh hoàn

3 : Siêu âm cũng được dùng để:

* Hướng dẫn thực hiện các thủ thuật như sinh thiết bằng kim, là thủ thuật đưa kim vào để lấy một mẫu tế bào từ một khu vực bất thường của cơ thể để đem đến phòng thí nghiệm kiểm tra.

* Thể hiện hình ảnh của vú để hướng dẫn sinh thiết ung thư vú

* Chẩn đoán nhiều loại bệnh tim và khảo sát những tổn thương sau một cơn đau tim hoặc một bệnh khác.

4 : Siêu âm Doppler giúp các bác sĩ quan sát và đánh giá:

* Sự tắc nghẽn của dòng máu ( chẳng hạn như huyết khối ).

* Hẹp các mạch máu ( có thể gây ra do mảng vữa ).

* Những khối u và dị tật bẩm sinh.

5 : Siêu âm trong thai kỳ :

Siêu âm trong thời gian mang thai là rất cần thiết để đánh giá sự phát triển của khối thai cũng như phát hiện những bất thường của nó , siêu âm đo mực nước ối , chẩn đoán cuộc sinh , giới tính , trọng lượng thai nhi ....

Trong quá trình mang thai , cần siêu âm ở 5 mốc thời điểm quan trọng đó là : Khi phát hiện trễ kinh, tuần 12-14, tuần 21-24, tuần 30-32 của thai kỳ và lúc gần sinh.

+ Thời điểm thứ nhất : - Siêu âm khi phát hiện trễ kinh Khi trễ kinh 1 tuần hoặc que thử thai có 2 vạch, siêu âm lần đầu tiên. Siêu âm sẽ xác định có thai hay không , thai nằm trong hay ngoài tử cung, có khối u ở tử cung và buồng trứng hay không.

+ Thời điểm thứ 2: - Tuần 12-14 của thai kỳ

Đây là thời điểm siêu âm quan trọng , vì thai nhi đã hình thành xong nên bác sĩ sẽ tính toán tuổi thai nhi chính xác nhất, tim thai phát triển thế nào, giới tính thai nhi , thai đơn hay thai đôi và có phát triển bình thường không.

Đặc biệt, trong thời gian này, các trường hợp dị tật sẽ được phát hiện chính xác. Bác sĩ sẽ dựa vào khoảng sáng sau gáy thai nhi để dự đoán nguy cơ bệnh Down, dị dạng tim, tay chân, thoát vị cơ hoành… Nếu khoảng sáng đó tăng vào tuần thứ 18 thì thai phụ cần được chọc nước ối để chẩn đoán bệnh Down và siêu âm 4D để xem thai nhi có dị dạng không.

+ Thời điểm thứ 3 : - Tuần 21-24 của thai kỳ

Thời điểm này đã có thể quan sát kỹ các phần của thai nhi , từ đó phát hiện các dị tật bẩm sinh. kiểm tra chiều dài tay chân, não, cột sống, hộp sọ, tim, phổi, gan, thận của thai nhi. Quan trọng hơn, khi siêu âm, bác sĩ sẽ phát hiện những dị tật bẩm sinh như sứt môi, hở hàm ếch, dị dạng ở nội tạng.

+ Thời điểm thứ 4 : - Tuần 30-32 của thai kỳ

Ở lần siêu âm thai này, các bác sĩ sẽ phát hiện những bất thường xuất hiện muộn như tật não úng thủy (đầu nước), phù nhau thai, thai nhi chậm tăng trưởng hay phát triển quá mức. Bên cạnh đó, bác sĩ cũng kiểm tra tình trạng phát triển của thai nhi, dây rốn có đủ tốt để vận chuyển dinh dưỡng nuôi bào thai hay không. Thêm nữa, còn kiểm tra vị trí ngôi thai (ngôi đầu, ngôi mông hay ngôi ngang ), nhau có quấn cổ thai nhi không ( nhau cuốn cổ gây khó đẻ, mất máu, em bé bị ngạt sau sinh ), nước ối đục hay trong, ít hay nhiều.

+ Thời điểm thứ 5 : - Thời điểm gần sinh ( sau tuần 32 ) :

Siêu âm chẩn đoán cuộc đẻ , thời gian đẻ , xác định can thiệp mổ đẻ hay đẻ thường .

IV : KỸ THUẬT SIÊU ÂM :

+ Trong hầu hết các cuộc khám siêu âm, bệnh nhân sẽ được yêu cầu nằm ngửa trên bàn khám. Một chất gel trong suốt sẽ được bôi lên vùng cơ thể cần khảo sát để giúp đầu dò tiếp xúc chắc chắn với cơ thể và hạn chế không khí chen vào giữa đầu dò và da bệnh nhân. Sau đó bác sĩ siêu âm sẽ ấn đầu dò vào da bệnh nhân và quét nó về phía sau và ra trước trên những vùng cơ thể được khám.

+ Trong một số kiểu siêu âm đặc biệt , đầu dò sẽ được đưa vào các lỗ tự nhiên của cơ thể. Những khảo sát này bao gồm:

* Siêu âm tim qua ngã thực quản: đầu dò sẽ được đưa vào thực quản để khảo sát hình ảnh của tim.

* Siêu âm qua ngã trực tràng: đầu dò sẽ đư���c đưa vào trực tràng của bệnh nhân nam để quan sát tiền liệt tuyến.

* Siêu âm qua ngã âm đạo: đầu dò sẽ được đưa và âm đạo của bệnh nhân nữ để quan sát tử cung và buồng trứng.

Bình luận

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN:
popup

Số lượng:

Tổng tiền: