Bệnh ung thư vòm họng

Bệnh ung thư vòm họng

I - ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH UNG THƯ VÒM HỌNG

1, Thuật ngữ và tên gọi:

Ung thư vòm họng (Cancer du Cavum) là thuật ngữ được sử dụng từ trước theo y học nước Pháp, đã được phổ thông hóa, mô tả khối u hiện diện ở mũi hầu, khu vực phía sau khoang mũi và trên mặt sau của cổ họng (vòm họng). Loại ung thư này có một số tính chất đặc biệt nên thường được tách riêng với các loại ung thư đầu và cổ khác.

Các khối u hiện diện ở vòm họng hầu hết xuất phát từ lớp tế bào biểu mô phủ có độ biệt hóa khác nhau, qua đó có sự đáp ứng khác nhau trong điều trị và tiên lượng bệnh. Ở người lớn, ung thư biểu mô phủ chiếm hầu hết các trường hợp, ở trẻ em chiếm khoảng từ 20 – 35 % phần còn lại là Saccom cơ vân và u limpho. Trong điều trị cần phân biệt rõ từng loại ung thư: ung thư tế bào biểu mô, Sarcom, lympho…; vì vậy hiện nay thuật ngữ ung thư biểu mô mũi họng (Nasopharyngeal carcinoma) được sử dụng trong điều trị và chẩn đoán bệnh.

Thuật ngữ ung thư biểu mô mũi họng được sử dụng trong chuyên môn, điều trị, phân loại bệnh tật quốc tế (ICD-10), chỉ những khối u phát triển từ biểu mô vùng mũi họng. Thuật ngữ ung thư vòm họng được dùng trong đơn thuốc, công bố chẩn đoán cho bệnh nhân (vì tính phổ thông dễ hiểu) và những tài liệu có tính chất phổ cập giới thiệu, chỉ  khối u hiện diện ở vùng vòm họng.

2, Bệnh căn và thực trạng bệnh

Ung thư là tình trạng loạn sản các tế bào mô của chính cơ thể, sự sinh sản quá mức không kiểm soát hình thành nên các khối u (cancer), ở mô máu là sự tràn ngập các tế bào non (tế bào ung thư) ở máu ngoại vi.

Ở Việt Nam ung thư biểu mô mũi họng là bệnh đứng đầu trong các ung thư vùng đầu mặt cổ, đứng hàng thứ 5 trong tất cả các bệnh ung thư. Tỉ lệ mắc bệnh ở nam cao hơn nữ: ở nam tỉ lệ mắc bệnh chuẩn là 7,4/100.000 dân, ở nữ là 4,7/100.000 dân.

Ung thư biểu mô mũi họng (ung thư vòm họng) xuất hiện ở vị trí kín đáo của vòm họng, nằm sâu dưới nền sọ, các triệu chứng ban đầu thường chỉ thoáng qua và không đặc hiệu, cho nên việc chẩn đoán xác định thường chậm, khi phát hiện ra bệnh thường là đã ở giai đoạn muộn không còn khả năng điều trị.

Các tiến bộ của kỹ thuật xạ trị: Từ xạ trị thông thường bằng nguồn Cobalt-60, chùm tia X máy gia tốc sơ khai, xạ trị áp sát liều thấp (LDR), xạ trị áp sát liều cao (HDR), xạ trị không gian 3 chiều, xạ trị điều biến liều (IMRT) đã góp phần cải thiện chất lượng điều trị, giảm các biến chứng và kiểm soát tốt liều xạ trị diệt u. Hóa trị liệu với nhiều thuốc có tác dụng ức chế và tiêu diệt các tế bào ác tính, sự ra đời của Cisplatin với công dụng chống ung thư do ức chế tế bào có kết quả khả quan trong điều trị ung thư biểu mô vòm mũi họng.

Sự kết hợp giữa xạ trị và đa hóa trị liệu đã cải thiện đáng kể chất lượng chữa bệnh, kéo dài tuổi thọ  hoặc kiểm soát được bệnh.

II - TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG BỆNH UNG THƯ VÒM HỌNG

1, Các dấu hiệu sớm:

Thường nghèo nàn, bệnh nhân thường không để ý, ngay cả khi đến khám ở cơ sở y tế cũng bị nhầm lẫn và bỏ qua hay nhầm với viêm mũi, viêm xoang…. Các dấu hiệu sớm thường là đau đầu thoáng qua, thỉnh thoảng ngạt mũi, hoặc chảy máu mũi và thường là một bên, có thể có ù tai…

Có thể xuất hiện hạch cổ ngay từ đầu, thường ở góc hàm hoặc mang tai, hạch nhỏ không đau và không ảnh hưởng đến sinh hoạt.

2, Các dấu hiệu muộn:

Thường xuất hiện ở thời điểm 6 tháng sau khi có các triệu chứng đầu tiên do khối u phát triển tại chỗ và xâm lấn gây ra.

a, Triệu chứng hạch ở cổ: Phổ biến nhất là vị trí hạch cổ cao, đặc biết hạch cổ sau trên (hạch cơ nhị thân) thường bị nhất. Di căn sớm lan đến hạch sau hầu của Rouvière, có thể ở một hoặc cả hai bên cổ. Hạch cứng và không cho cảm giác đau đớn, lớn dần từ từ, không sưng đỏ, không viêm quanh hạch, di động kém hạn chế dần sau cố định do do dính vào da và cơ.

b, Triệu chứng ở mũi: Ngạt tắc mũi, ngạt mũi liên tục một bên hoặc cả hai bên nói giọng mũi kín do u lớn gây bít tắc. Chảy máu mũi,  xì ra nhầy lẫn máu, chảy mũi mủ mùi hôi thối do hoại tử. Khám mũi thấy có thể thấy khối u sùi sâu trong hốc mũi, thường loét hoại tử chảy máu

c, Triệu chứng ở tai: Phổ biến nhất là mất nghe một bên do u làm tắc vòi Eustachi dẫn tới viêm tai thanh dịch. Sự mất chức năng vòi Eustachi có thể là kết quả xâm lấn các cơ nuốt hoặc liệt các cơ mở họng. Có thể chảy mủ tai lẫn máu mùi hôi thối có khi thấy mảnh hoại tử. Soi tai có thể thấy thủng màng nhĩ, có u sùi hoại tử dễ chảy máu, u có thể lan ra hòm nhĩ, ống tai ngoài…

d, Triệu chứng ở mắt: Giai đoạn muộn khi u xâm lấn rộng sẽ gây chèn ép tổn thương dây thần kinh chi phối vận động mắt làm bệnh nhân lác, nhìn đôi, sụp mi, giảm hoặc mất thị lực hoặc mắt bị đẩy lồi ra trước.

e, Khám soi họng: Soi họng mũi trước thường không có tổn thương. Soi mũi sau có thể thấy khối u sùi, quanh có thâm nhiễm ở nóc vòm hay thành bên vòm họng.

f, Triệu chứng thần kinh: Do liệt các dây thần kinh sọ , có thể đơn lẻ hoặc kết hợp nhiều dây thần kinh đồng thời khi u ở giai đoạn lan tràn. Khi u xâm lấn tầng trước nơi có vị trị xuất phát của dây thần kinh số I, II; khi xâm lấn tầng sọ giữa liên quan nhiều đến các dây thần kinh từ số III đến số VIII và  xâm lấn tầng dưới là các dây thần kinh số IX, X, XI, XII . Các tổn thương thường gặp là:

+ Hội chứng đá bướm: Liệt dây thần kinh số VI, V1, IV, III và sau đó là liệt dây thần kinh số II

+ Hội chứng khe bướm: Liệt dây thần kinh số III, V1, VI

+ Hội chứng xoang tĩnh mạch hang: Liệt dây thần kinh số III, IV, V, VI và lồi mắt

+ Hội chứng đỉnh hố mắt: Liệt dây thần kinh số II, III, IV, V, VI

+ Hội chứng Gradenigo-Lannois: Liệt dây thần kinh số V3, VI

+ Hội chứng lỗ rách sau Vernet: Liệt dây thần kinh số  IX, X, XI

+ Hội chứng lồi cầu lỗ rách sau: Liệt dây thần kinh số IX, X, XI, XII

+ Hội chứng Villaret: Liệt dây thần kinh số IX, X, XI, XII và thần kinh giao cảm cổ

+ Hội chứng Garcin: Liệt toàn bộ 12 dây thần kinh sọ cùng bên có u.

3, Các thể lâm sàng:

+ Thể hạch: Hạch là triệu chứng thường gặp ở giai đoạn toàn phát, ban đầu hạch bé không đau, thường  ở một bên hoặc đôi khi có cả ở hai bên, hạch có thể không tương xứng với u (hạch to trong khi u nhỏ)

+ Thể thần kinh: Thường gặp ở những trường hợp lan lên nền sọ gây tổn thương các dây thần kinh sọ

+ Thể chảy máu: Với triệu chứng thường gặp là chảy máu mũi, khạc đờm lẫn máu

+ Thể tai: Ù tai, nghe kém hay điếc, chảy mủ tai, thể này thường phối hợp với các thể khác

+ Thể mũi: Tắc mũi, chảy nước mũi, ngửi kém hay mất khứu giác, thể này thường phối hợp với các thể khác, ít khi đơn thuần.

III- ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÒM HỌNG BẰNG HÓA TRỊ LIỆU

Điều trị ung thư biểu mô mũi họng bằng hóa trị liệu có thể tiến hành đồng thời với xạ trị (Concomitance chemoradiotherapy) hoặc truyền hóa chất trước tia (Neoadjuvant chemotherapy)

1, Hóa xạ trị đồng thời:

Có 2 phác đồ thường được sử dụng:

+ Cisplatin liều thấp 30mg/m2 diện tích da cơ thể truyền tĩnh mạch ngày thứ nhất của các tuần từ tuần 1 đến tuần thứ 6

+ Cisplatin liều 100mg/m2 diện tích da cơ thể truyền tĩnh mạch vào các ngày: 1, 22, 43 của quá trình xạ trị

3 tuần sau khi kết thúc hóa xạ trị đồng thời  sẽ truyền bổ trợ thêm 3 đợt hóa chất  với phác đồ CF vào các tuần 11, 15, 19 . Phác đồ CF là kết hợp Cisplatin 80mg/m2 da ngày thứ 1, 5FU 1000mg/m2 da ngày 1 đến ngày thứ 4

2, Hóa trị liệu trước tia

Được áp dụng khi ung thư vòm họng đã ở giai đoạn IV, thường áp dụng phác đồ có platinum, nếu đáp ứng hoàn toàn xét đến khả năng xạ trị u và hạch cổ. Có nhiều phác đồ, thường áp dụng phác đồ 2-3 đợt CF:

+ Phác đồ 2-3 đợt CF (Cisplatin 100mg/m2 da ngày 1, 5FU 1000mg/m2 da ngày 1 đến ngày 5) chu kỳ 21 ngày.

+ Phác đồ nhóm platin ( Cisplatin hoặc Carboplatin) kết hợp với taxan (Paclitaxel hoặc Docetaxel)

+ Phác đồ kết hợp nhóm platin với taxan và 5FU

+ Phác đồ hóa trị liệu kết hợp với thuốc ức chế yếu tố phát triển biểu mô: Cetuximab hoặc Erlotinib

3, Cách tính diện tích da cơ thể theo cân nặng và chiều cao:

Có nhiều công thức tính, thường áp dụng công thức tính sau:

Diện tích da = chiu cao X cân nng3600
Trong đó: Chiều cao tính bằng cm, cân nặng tính bằng Kg, diện tích da được tính ra kết quả là m2

IV- ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÒM HỌNG BẰNG XẠ TRỊ

Xạ trị là phương pháp dùng các tia phóng xạ chiếu trực tiếp vào khối u nhằm tiêu diệt các tế bào ung thư, do các tế bào non (tế bào ung thư) nhạy cảm hơn với các tia phóng xạ.

Xạ trị là phương pháp chủ yếu trong điều trị ung thư biểu mô mũi họng do đặc điểm giải phẫu của vòm họng và sự nhạy cảm của tế bào ung thư biểu mô mũi họng với tia xạ. Có 2 phương pháp được áp dụng:

1, Xạ trị từ xa ( External Beam Radiotherapy)

Xạ trị từ xa (EBRT) thường xạ trị vào vùng vòm họng, đáy sọ và vùng cảnh cao góc hàm hai bên (nơi có nguy cơ di căn hạch cao) bằng các trường chiếu 2 bên đối xứng. Xạ trị hệ hạch cổ thấp bằng trường chiếu thẳng cổ thấp. Phân liều xạ thông thường là 2 Gy/ngày, 5 ngày/tuần. Tổng thời gian xạ trị thường từ 6,5-7 tuần.

Kỹ thuật xạ trị hiện đại đồng liều theo không gian 3 chiều(confomal), xạ trị điều biến chùm tia (Intensity-Modulated Radiation Theraphy), nâng liều xạ bằng tăng phân liều, tia liều nhỏ nhưng nhiều lần trong ngày làm giảm biến chứng mà tăng tác dụng diệt u, phối hợp với hóa trị khi bệnh ở giai đoạn muộn.

2, Xạ trị áp sát

Sử dụng Radium áp tại chỗ vừa nâng được liều cao có hiệu quả tại u đồng thời giảm được tổn thương tối đa cho các mô lành xung quanh. Chụp cắt lớp vi tính có thể định vị chính xác vị trí u từ đó lập kế hoạch phân liều tối ưu đã nâng hiệu quả của xạ trị áp sát, từ đó phương pháp xạ trị ngày càng được sử dụng nhiều hơn trong điều trị ung thư.

Kết hợp giữa xạ trị ngoài và xạ trị áp sát: Phương pháp này được chỉ định khi cần thiết phải nâng liều cao vào vòm họng: Sau xạ trị ngoài 60 Gy sẽ tiến hành chỉ định nâng liều vào u vòm bằng xạ trị áp sát, có thể nâng liều thêm 15-20 Gy

3, Quy trình chiếu tia xạ

Để bệnh nhân được xạ trị cần qua các bước sau:

+ Chụp mô phỏng: Chụp CT-Scanner hoặc PET/CT xác định tổn thương, xác định mức độ xâm lấn của u, phát hiện di căn hạch

+ Lập kế hoạch xạ trị:

- Hình ảnh mô phỏng sẽ được chuyển sang hệ máy tính để lập kế hoạch điều trị , từ hình ảnh mô phỏng  xác định các thể tích xạ trị: thể tích khối u thô, thể tích bia lâm sàng, thể tích lập kế hoạch xạ trị, thể tích khối u sinh học và các cơ quan cần bảo vệ…

- Xác định số trường chiếu, góc chiếu, số lượng các trường chiếu chia nhỏ (segments), năng lượng chùm tia, số lượng các trường chiếu. Có thể lập kế hoạch xạ trị 3D hoặc xạ trị điều biến liều - IMRT (Intensity Modulated Radiation Therapy) nhằm tập trung liều bức xạ cao nhất vào khối u và thấp nhất vào tổ chức lành, giảm biến chứng xạ trị.

- Tính tổng liều và phân liều

+ Kiểm tra kế hoạch xạ trị trên phantom: sai số cho phép <3%.

+ Tiến hành xạ trị với máy xạ trị gia tốc.

V - NHỮNG DẤU HIỆU CẢNH BÁO BỊ UNG THƯ VÒM HỌNG

Ung thư vòm họng hiện diện ở vị trí kín đáo, tiến triển âm thầm không có triệu chứng đặc hiệu, khi có triệu chứng thì đó là những triệu chứng do u lớn lên ảnh hưởng đến các cơ quan khác. Chính vì vậy việc phát hiện bệnh thường bị chậm làm ảnh hưởng lớn đến khả năng chữa trị.

Việc phát hiện bệnh sớm bệnh có ý nghĩa vô cùng lớn lao trong điều trị cứu sống bệnh nhân, vì vậy cần phải chú ý tới những dấu hiệu ban đầu có thể là của ung thư ung thư vòm họng. Những dấu hiệu đó là:

1, Đau nửa đầu:

Đau đầu là triệu chứng sớm, thường là đau nửa đầu, thành cơn, dấu hiệu đau ngày càng rõ rệt đau nửa đầu sâu trong hốc mắt hoặc vùng thái dương. Cùng với đau đầu là cảm giác đau nhức trong tai, ù tai giọng trầm cùng bên với đau đầu, nghe kém, tai như bị đút nút…Khi có các dấu hiệu trên cần phải cảnh giác có thể bị ung thư vòm họng, do khối ung thư xuất phát từ thành bên họng, loa vòi chèn ép gây nên các dấu hiệu trên.

2, Ngạt mũi, chảy mũi nhày lẫn máu:

Ngạt mũi thoáng qua không thường xuyên, cảm giác vướng khó chịu vùng sau mũi  thường phải khịt đờm xuống họng, kèm theo có thể là chảy mũi nhày có lẫn máu, hoặc kèm theo đau nửa đầu cùng bên với bên bị ngạt và chảy mũi. Ngạt mũi cùng bên tăng dần, lúc đầu ngạt từng đợt sau đó ngạt liên tục, ngạt cả hai bên gây nói giọng mũi kín. Triệu chứng trên là do khối u ở nóc vòm phát triển về phía trước cản trở sự lưu thông lỗ mũi sau, người bệnh cần phải đi khám xác định hoặc loại trừ bệnh ung thư vòm họng, không nên mặc danh cho đó là viêm mũi họng thông thường.

3, Mỏi hàm, tê bì nửa mặt:

Mỏi hàm, cử động hàm hạn chế , nhai chóng mỏi, đau khi nhai lâu, cắn không chặt hoặc dấu hiệu khít hàm miệng không há to được … đồng thời kèm theo tê bì nửa mặt cùng bên do khối u chèn ép dây thần kinh tam thoa.

4, Sặc lỏng, khó nuốt, nói khó, nói giọng đôi:

Do u đẩy phồng màn hầu làm ảnh hưởng đến giọng nói, nói giọng mũi hở, cảm giác cứng họng khó nuốt, khó nói và hay bị sặc khi uống nước do cửa thanh môn đóng không chặt,

5, Hay bị chảy máu cam, phát hạch cổ, nhìn đôi, tự nhiên lác mắt:

Khi xuất hiện các triệu chứng này là đã muộn ung thư đã di căn ra các hạch lân cận và xâm lấn tại chỗ rất nhiều. Nhưng đây thường lại là lý do khiến bệnh nhân đi khám bệnh và phát hiện ra bệnh khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, khả năng chữa trị hạn chế.

 

Bình luận

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN:
popup

Số lượng:

Tổng tiền: