Nhietmieng.com

Thuốc chữa nhiệt miệng

JA slide show

KINH NGHIỆM DÂN GIAN CHỮA NHIỆT MIỆNG


Warning: imagejpeg() [function.imagejpeg]: Unable to open 'D:\Domains\nhietmieng.com\wwwroot/images/resized/images/stories/demo/24150.jpg' for writing: Permission denied in D:\Domains\nhietmieng.com\wwwroot\modules\mod_ja_contentscroll\mod_ja_contentscroll\application.php on line 256
TRÀ XANH

TÌM HIỂU KIẾN THỨC Y HỌC PHỔ THÔNG

Article Index
TÌM HIỂU KIẾN THỨC Y HỌC PHỔ THÔNG
Page #
All Pages
Nội dung của chuyên mục này mang tính chất phổ cập , sơ lược , dành cho nhiều trình độ khác nhau , cho nên có thể một số khái niệm không sử dụng từ chuyên ngành mà các nhà chuyên môn từng biết , mong các bạn thông cảm .

. -----------------------------------------------------------------------------------------------------------------

.

.

Bài 1: - SIÊU ÂM CHẨN ĐOÁN

.

.

Máy siêu âm dùng trong chẩn đoán là một loại máy sử dụng sóng siêu âm và kỹ thuật sử lý thông tin của máy vi tính tạo thành hình ảnh rõ nét các cơ quan nội tạng trong cơ thể .

Như vậy siêu âm chỉ là một công cụ thăm khám hiện đại , có thể nhìn thấy hình thể của các cơ quan và các bất thường như : kích thước, khối u , cặn ... chứ không phải siêu âm là tìm ra bách bệnh như một số người hiểu ,có nhiều cơ quan nội tạng không siêu âm được ,đồng thời có nhiều bệnh việc chẩn đoán không cần dựa vào kết quả siêu âm

Đại cương :

Âm thanh là một dao động cơ học được truyền đi trong một môi tr­ường vật chất nhất định . Năng l­ượng cơ học này tác động vào các phân tử vật chất của môi tr­ường làm cho chúng dao động khỏi vị trí cân bằng, mặt khác do t­ương tác mà các phân tử bên cạnh nó cũng chụi ảnh h­ưởng và dao động theo, tạo thành sóng lan truyền cho tới khi hết năng l­ượng. chính vì vậy âm thanh không thể truyền ở môi tr­ường chân không như các sóng điện từ.

Âm thanh được chia thành 3 loại dựa theo tần số.

+ Những âm thanh có tần số dư­ới 16 Hz mà tai người không thể nghe được là hạ âm, như sóng địa chấn.

+ Các sóng âm có dải tần từ 16 Hz đến 20.000 Hz được gọi là âm nghe được,

+ Các sóng âm có tần số trên 20.000 Hz là siêu âm .

Như vậy : Siêu âm là một âm thanh có tần số rất cao , về bản chất siêu âm cũng không có gì khác với các dao động cơ học khác và nó cũng được đặc trưng bởi một số đại l­ượng vật lý như: tần số, biên độ , chu kỳ...

2. Quá trình lan truyền sóng âm trong cơ thể

Trong môi tr­ường đồng nhất

Là môi tr­ường có cấu trúc giống nhau, đặc trưng cho mỗi một môi tr­ường là một hệ số mật độ môi tr­ường (ρ) . Khi chiếu một chùm tia siêu âm vào một môi tr­ường đồng nhất, nó sẽ xuyên qua với một năng l­ượng giảm dần cho tới khi hết năng l­ượng.

Sở dĩ có sự suy giảm năng l­ượng trên đ­ường truyền là do có sự t­ương tác giữa siêu âm và các phần tử nhỏ của cơ thể gây ra hiệu ứng toả nhiệt và tạo vi bọt, tuy nhiên do siêu âm chẩn đoán sử dụng công suất thấp nên chúng ta không cảm thấy sự tăng nhiệt độ này trong quá trình thăm khám. Mỗi một môi tr­ường có hệ số hấp phụ siêu âm (α) khác nhau, nên mức độ suy giảm siêu âm cũng khác nhau. Ngoài ra độ suy giảm siêu âm còn phụ thuộc vào nhiệt độ của môi tr­ường và tần số của chùm tia siêu âm, khi tần số càng cao mức độ suy giảm càng nhanh nên độ xuyên sâu càng kém. Trong siêu âm hệ số (α) th­ường được tính bằng đơn vị dB/ cm ở tần số 1MHz. Một số tổ chức, cơ quan trong cơ thể có hệ số hấp phụ như sau: Phổi 41; x­ương sọ 20; cơ 3,3 ; thận 1; gan 0,94; não 0,85; mỡ 0,65; máu 0,18; n­ớc 0,0022. Ví dụ khi chiếu chùm tia siêu âm với tần số 1 MHz qua 1 cm thận c­ường độ siêu âm sẽ bị giảm đi 1 dB. T­ương tự như­ vậy chùm tia siêu âm sẽ bị giảm năng l­ượng nhiều khi chiếu qua phổi, x­ương và hầu như không thay đổi khi xuyên qua máu và nuớc. Trong thực hành lâm sàng mức độ suy giảm siêu âm còn cao hơn nữa vì thông th­ường chúng ta sử dụng đầu dò có tần số lớn hơn 1 MHz, tuy nhiên nếu nói chính xác mối quan hệ giữa tần số và hệ số hấp phụ không hoàn toàn tuyến tính, như­ng trong giải tần số của siêu âm chẩn đoán thông th­ường, chúng ta có thể coi gần như tuyến tính nghĩa là khi tần số tăng lên 2MHz thì hệ số hấp phụ tăng lên gần gấp đôi. Do đó muốn nâng cao độ xuyên sâu để thăm khám các bộ phận ở xa đầu dò người thầy thuốc buộc phải giảm tần số nguồn phát hoặc tăng năng l­ượng của chùm tia siêu âm, nh­ng để đảm bảo tính an toàn cho bệnh nhân điều kiện thứ 2 th­ường không thể thực hiện được.

.Trong môi tr­ường không đồng nhất.

Cơ thể người là một môi tr­ường không đồng nhất, bao gồm nhiều cơ quan, tổ chức có cấu trúc khác nhau. Khi chùm tia siêu âm truyền tới biên giới của hai môi tr­ường có độ trở kháng âm khác nhau, một phần sẽ đi theo h­ớng ban đầu và tiếp tục đi vào môi tr­ường tiếp theo, một phần sẽ bị phản xạ trở lại, mức độ phản xạ nhiều hay ít phụ thuộc vào độ chênh lệch trở kháng giữa hai môi tr­ường. Trở kháng âm (z) là một đại l­ượng vật lý biểu thị cho khả năng cản trở của môi tr­ường , chống lại không cho siêu âm xuyên qua, nó phụ thuộc vào mật độ và tốc độ truyền âm của môi tr­ường: Khi sóng siêu âm truyền tới mặt phân cách giữa hai môi tr­ường có độ trở kháng âm khác nhau, phần năng l­ượng của chùm tia siêu âm phản xạ trở về tỷ lệ thuận với độ chênh lệch trở kháng giữa 2 môi tr­ường. Và chúng được đặc trưng bằng một đại l­ượng gọi là hệ số phản xạ R. Để đơn giản chúng ta xét tr­ường hợp đặc biệt khi chùm tia vuông góc với mặt phẳng phân cách của các bộ phận cần thăm dò.

Như vậy khi chùm tia siêu âm đi qua tổ chức x­ương vào mô mền có 43% năng l­ượng bị phản xạ trở lại và chỉ có 57% năng l­ượng tiếp tục đi qua. Tương tự như vậy nếu bề mặt phân cách là không khí và mô mền thì R= 0,998, hay hệ số truyền âm chỉ còn 1- 0,998 = 0,002 hay =0,2%. Do đó khi thực hành chúng ta phải tạo môi tr­ường chất lỏng ( gel siêu âm ) giữa đầu dò và cơ thể để chùm tia siêu âm có thể xuyên vào trong cơ thể, mà không bị phản xạ trở lại.

Những ví dụ mà chúng ta mô tả trên là xét trong điều kiện chùm tia siêu âm vuông góc với bề mặt phân cách các môi tr­ường truyền âm có độ trở kháng khác nhau của cơ thể. Nh­ưng trên thực tế phức tạp hơn và ta có hiện t­ượng phản xạ toàn phần hoặc hiện t­ượng sóng âm chỉ tr­ợt trên bề mặt phân cách hai môi tr­ường, hiện t­ượng này hay gặp khi trên đ­ường đi của chùm tia siêu âm có các cấu trúc hình cầu.

.

.

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

.

Bài 2: - CHỤP X QUANG CẮT LỚP VI TÍNH

.

.

Chụp X quang cắt lớp vi tính là kỹ thuật dùng máy chụp X quang qua xử lý vi tính tạo thành hình ảnh cắt lớp cấu tạo trong của cơ thể

I. Đại cương

Một máy chụp cắt lớp vi tính gồm có : Hệ thống phát xạ QTX và những đầu dò đặt đối diện với bóng X quang. Hệ thống này quay quanh một đường tròn của một mặt phẳng vuông góc với trục của cơ thể. Chùm tia đi qua một cửa sổ rất hẹp (vài milimet) qua cơ thể bị hấp thu một phần, phần còn lại sẽ được đầu dò ghi lại.

Kết quả ghi được ở rất nhiều vị trí khác nhau của bóng X quang sẽ được chuyển vào bộ nhớ của một máy vi tính để phân tích , Dựa vào độ hấp thu tia X của từng đơn vị thể tích, máy tính sẽ tính ra tỷ trọng trung bình của mỗi thể tích và ghi nhớ lại. Cấu trúc hấp thu càng nhiều tia X thì tỷ trọng càng cao. Vì vậy, người ta còn gọi phương pháp chụp cắt lớp vi tính là chụp cắt lớp vi tính đo tỷ trọng (tomodensitometrie). Dựa vào hệ số suy giảm tuyến tính của chùm QTX người ta tính ra tỷ trọng của cấu trúc theo đơn vị Hounsfield , từ đó đưa ra được hình ảnh từng lớp cắt khác nhau của cơ thể .

Máy chụp cắt lớp được cải tiến qua 4 thế hệ :

Thế hệ 1

Máy chụp có 1 đầu dò (detector), ứng dụng nguyên tắc quay và tịnh tiến. Chùm QTX cực nhỏ chiếu qua cơ thể tới 1 đầu dò để thu nhận kết quả. Bóng QTX phải quay quanh cơ thể 1800, khi quay được 10 thì quét ngang cơ thể và phát tia để đo, thời gian chụp một quang ảnh mất vài phút.

Thế hệ 2

Máy chụp có nhiều đầu dò, quay và tịnh tiến.

Chùm QTX có góc mở rộng khoảng 100 đối diện với một nhóm từ 5 - 50 đầu dò. Máy cũng hoạt động theo nguyên tắc quay và tịnh tiến như trên nhưng do chùm QTX rộng hơn nên giảm được số lần quét ngang. Thời gian chụp 1 quang ảnh là 6 - 20 giây.

Thế hệ 3

Máy chụp có nhiều đầu dò dùng nguyên tắc quay đơn thuần chùm QTX có góc mở rộng hơn, chùm hết lên cơ thể cần chụp 200 - 600 đầu dò ghép thành một cung đối diện X quang. Bóng QTX vừa quay vừa phát tia, dãy đầu dò quay cùng chiều với bóng và ghi kết quả. Thời gian chụp 1 quang ảnh từ 1 - 4 giây, độ dày lớp cắt đạt tới 2mm.

Thế hệ 4

Máy chụp hệ thống đầu dò tĩnh, gá cố định vào 3600 của đường tròn, số lượng đầu có thể lên tới 1000 bóng QTX quay quanh trục cơ thể và phát tia. Thời gian chụp 1 quang ảnh có thể đạt tới 1 giây, rất thuận lợi cho khám xét các tạng chuyển động.

.

II. Áp dụng chụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán

1. Chụp cắt lớp vi tính không dùng thuốc cản quang

Hầu hết các khám xét cắt lớp vi tính đều bắt đầu bằng chụp không có thuốc cản quang. Dựa vào các dấu hiệu lâm sàng, X quang và siêu âm... để chọn vùng đưa vào cắt lớp vi tính. Tất cả các lớp vi tính đều vuông góc với trục của cơ thể (trừ sọ não có thể cắt theo mặt phẳng chính diện nếu cần thiết). Độ dày của cắt lớp thường dùng là 10mm với bước chuyển (step) 10mm. Đối với nền sọ, hố yên, xương đá, thượng thận phải dùng cắt lớp mỏng hơn (2 hoặc 5mm), có thể dùng bước chuyển nhỏ hơn độ dày của lớp cắt để không bỏ lọt hình bất thường ở nơi tiếp giáp giữa hai lớp. Tái tạo ở những mặt phẳng khác (reformating): sau khi đã có kết quả của những lớp cắt trong bộ nhớ, có thể xây dựng lại hình ảnh theo những mặt phẳng do thầy thuốc tự chọn, ví dụ: cắt lớp nghiêng, cắt lớp chính diện, chếch...

Hiện ảnh không gian 3 chiều: những máy sản xuất gần đây thường cho ghép chương trình này. Có thể yêu cầu máy cho ảnh 3 chiều với những khoang mở tự chọn (three - dimensional display), các ảnh này rất quan trọng đối với các phẫu thuật viên sọ não.

2. Chụp cắt lớp vi tính có áp dụng chất cản quang

Các khoang tự nhiên như ống tiêu hoá, các tạng rỗng hay chứa dịch, khoang dịch não tuỷ , lòng mạch … đều có thể đưa thuốc cản quang vào để làm rõ hơn hình dáng, đường bờ, các thành phần chứa bên trong và mối liên quan với các cấu trúc lân cận.

III Lượng nhiễm xạ đối với chụp cắt lớp vi tính

Liều nhiễm QTX tại vùng cơ thể chụp cắt lớp vi tính tương đương với liều tại chỗ của một lần khám đại tràng hoặc chụp thận tiêm tĩnh mạch (2 - 3rad). Liều sinh dục: do cấu trúc của máy bảo vệ tốt nên thường thấp hơn nhiều so với khám X quang quy ước nếu không chụp cắt lớp vi tính trực tiếp tại vùng có cơ quan sinh dục.

IV Chỉ định chụp cắt lớp vi tính trên lâm sàng

Chụp cắt lớp vi tính đã đem lại nhiều lợi ích trong chẩn đoán, đó là chưa kể đến các thủ thuật chọc dò và ứng dụng điều trị dựa vào kỹ thuật cắt lớp vi tính. Ngoài việc phát hiện các ổ bệnh lý có kích thước rất nhỏ (vài milimét) nhờ đo tỷ trọng của ổ bệnh, chụp cắt lớp vi tính còn cho phép dự đoán cấu trúc của các ổ bất thường trong cơ thể.

Ngoài ra khi mặt phẳng phân cách giữa 2 môi tr­ường không phẳng thì ngoài hiện t­ượng phản xạ và xuyên qua còn có hiện t­ượng tán xạ siêu âm , lúc này có một phần rất nhỏ sóng siêu âm đi theo các h­ớng khác nhau và chỉ có rất ít các sóng này trở về được đầu dò. Hiện t­ượng tán xạ siêu âm th­ường gặp khi siêu âm gặp các cấu trúc nhỏ có đ­ường kính nhỏ hơn b­ớc sóng (ϕ<<λ). Nhưng nhờ có tán xạ siêu âm mà ta có thể đánh giá được sự đồng đều của nhu mô, tổ chức trong cơ thể.

.

.

.------------------------------------------------------------------------------------------------------

.

Bài 3 : - BỆNH VIÊM GAN SIÊU VI TRÙNG

.

.

Viêm gan virus là một bệnh truyền nhiễm do một trong nhiều loại virus hướng gan gây ra. Viêm gan virus không những ảnh hưởng đến sức khỏe trước mắt, có thể gây tử vong, mà còn để lại hậu quả lâu dài là : viêm gan mạn, xơ gan, ung thư gan

I CÁC VIRUS VIÊM GAN

Cho tới nay, người ta thấy có 6 loại virus viêm gan phổ biến: A, B, C, D, E, G,…Một số siêu vi gây bệnh lý toàn thân gây viêm gan thứ phát, nhưng không đặc hiệu: CMV (cytomegalo virus), EBV (Epstein Barr virus) …..Chỉ có virus gây viêm gan B, C, D là có thể gây viêm gan mãn tính và xơ gan. Ở nước ta phổ biến là viêm gan A, B, C; Trong đó, quan trọng là B, C do nguy cơ của xơ gan , ung thư gan.

Đặc điểm của một số loại virus viêm gan (xem bảng dưới):

II bệnh VIÊM GAN A ( Hepatitis A virus - HAV )

Lây chủ yếu qua đường tiêu hóa thông qua: thức ăn, nước uống bị nhiễm, tiếp xúc qua tay bị ô nhiễm, qua dịch tiết vùng mũi - họng, khí dung, nước bọt. Các đối tượng đồng tình luyến ái, có thể lây qua tiếp xúc tình dục qua đường miệng-sinh dục-hâu môn. Đa số trường hợp nhiễm siêu vi A không có biểu hiện vàng da, ở trẻ em bệnh thường nhẹ, lành tính và ngắn ngày. Thời gian ủ bệnh từ 2-6 tuần, triệu chứng xuất hiện đầu tiên là sốt, vàng da, kế đến đau cơ, nhức đầu, mệt mõi, chán ăn, đau hạ sườn phải…bệnh thường tự giới hạn, và nếu khỏi là khỏi hoàn toàn, hiếm khi thành cấp hay mãn tính, men ALT thường trở về bình thường sau 2- 4 tuần.

Bệnh thường nhẹ, chỉ cần nâng đỡ thể trạng, nghỉ ngơi.Khẩu phần dinh dưỡng nhiều đạm. Có thể dùng sinh tố, thuốc chống nôn nếu cần.

Bệnh lây qua ăn uống nên vấn đề vệ sinh thực phẩm, vệ sinh cá nhân rất quan trọng .Cách ly và điều trị bệnh nhân khỏi lây lan cho tập thể.Hiện nay đã có vaccin ngừa viêm gan A rất hiệu quả. Tuy nhiên, có lẽ do giá thành cho tới nay chưa có một quốc gia nào có chủ trương quy mô quốc gia đưa vaccin viêm gan A vào chương trình tiêm chủng mở rộng. Tiêm chủng cho những tập thể, trẻ nhỏ, thanh niên hoặc nhóm có nguy cơ cao có lẽ có thể thực hiện để giảm tần xuất bệnh ở mức quốc gia. Nhìn lâu dài việc loại trừ, thậm trí thanh toán, viêm gan A sẽ được xem xét như đối với bệnh bại liệt.

III Bệnh VIÊM GAN B ( Hepatitis B virus - HBV )

Viêm gan B diễn biến thường nặng hơn Viêm gan A, có nhiều biến chứng nhất là ở giai đoạn cấp tính, tỷ lệ tử vong cao và có mức độ nhất định bệnh chuyển thành mãn tĩnh với tỷ lệ 10%-20% . Từ viêm gan mãn tính dẫn đến những hậu quả nặng như xơ gan, ung thư gan.

Bệnh viêm gan siêu vi B có thể phát hiện sớm một cách dễ dàng nhờ vào các xét nghiệm máu đơn giản. Việc phát hiện sớm viêm gan B mạn tính giúp gia tăng hy vọng ngăn ngừa biến chứng xơ gan và ung thư gan bằng cách khám sức khỏe định kỳ và điều trị với những loại thuốc đặc trị mới.

Viêm gan B cấp: 90% không có triệu chứng lâm sàng, 10% có triệu chứng : mệt mỏi, sốt, vàng da, chán ăn, đau cơ, đau khớp , đau hạ sườn phải …..gan lách to, phát ban….

Nếu nhiễm lúc sinh thì 90 % sẽ tiển triển thành viêm gan mãn tính , 10 % phục hồi hoàn toàn , nếu nhiễm lúc trưởng thành chỉ 10 % tiến triển thành mãn tính , còn lại xẽ phục hồi hoàn toàn

Khoảng 20 % viêm gan mãn tính có men gan cao kéo dài dẫn đến hậu quả nặng nề như : xơ gan , ung thư gan.

- Trong viêm gan cấp: cấu trúc gan ít thay đổi trên siêu âm, có thể chỉ to nhẹ

- Trong viêm gan mãn: tùy tình trạng nhẹ đến nặng có thể cấu trúc thô, bờ gan không đều, tăng áp lực tĩnh mạch cửa, lách to … Điều trị :

Trong giai đoạn cấp tính : Nghỉ ngơi. ăn nhiều đường, ít mỡ, tăng protid. Uống nhiều nước, ăn nhiều trái cây, hoa quả. Bổ sung sinh tố: C, B.

Giai đoạn mãn tính : Chỉ điều trị khi virus sinh sản (HBV DNA dương tính), có sự hủy hoại tế bào gan (men ALT tăng hơn 2 lần bình thường). Mục tiêu điều trị nhằm hạn chế sự sinh sản của siêu vi, cải thiện tế bào gan, ngăn chặn tiến trình xơ gan, ung thư gan.

- Hiện nay có vaccin ngừa viêm gan siêu vi B rất hữu hiệu.

IV Bệnh VIÊM GAN SIÊU VI C ( Hepatitis C virus - HCV )

Thời gian ủ bệnh từ 2 tuần - 6 tháng. Viêm gan C thường không gây ra viêm gan thể kịch phát. Những trường hợp nặng thường là do đồng nhiễm với HBV, HDV Hiện tại chưa có vaccin ngừa viêm gan C

V CÁC THUỐC ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN

Có nhiều loại thuốc đã được công nhận là thuốc chống siêu vi viêm gan , nhưng hiệu quả điều trị của những thuốc này chưa thật là hoàn hảo vì không điều trị dứt hẳn siêu vi. Thuốc chỉ có lợi cho một số bệnh nhân, vì vậy việc quyết định điều trị cần ý kiến của các BS chuyên khoa.

May mắn là đa số người mang siêu vi B mạn tính vẫn sống khỏe mạnh suốt đời mà không cần dùng thuốc. Tuy vậy không có cách nào để biết ai sẽ là người vẫn còn khỏe mạnh và ai sẽ là người sẽ bị các biến chứng trong tương lai nên điều tối quan trọng là tất cả những bệnh nhân bị viêm gan B mạn tính nên đi khám bệnh định kỳ cho dù có được điều trị thuốc hay không.

1- Interferon alpha:

Được chấp thuận vào năm 1991. Thuốc dùng dạng chích 3 lần mỗi tuần trong 6 tháng đến 1 năm hoặc lâu hơn. Khi chích thuốc bệnh nhân có thể bị tác dụng phụ như triệu chứng giả cúm, nhức đầu, trầm cảm…Interferon alpha là một chất tự nhiên có trong cơ thể người, được sản xuất bởi một số tế bào khi cơ thể nhiễm virut. Chức năng của Interferon alpha là diệt trừ tác nhân gây bệnh. Như vậy, khi dùng Interferon, siêu vi B sẽ bị loại bỏ giống như cơ chế đào thải tự nhiên của cơ thể.

Interferon alpha (RoferonỊ-A) được đóng sẵn trong bơm tiêm có kèm kim nhỏ, tiêm dưới da hoặc bắp thịt. Khi bắt đầu điều trị, hầu hết bệnh nhân đều có cảm giác sốt nhẹ, mệt mỏi trong vài giơ,?ọi là hội chứng giả cúm. Những biểu hiện này là do Interferon khởi động đáp ứng của cơ thể chống lại siêu vi giống như khi Bạn mắc bệnh cúm vậy. Về sau, tác dụng phụ này sẽ bớt dần. Uống Paracetamol nửa tiếng trước khi tiêm thuốc sẽ hạn chế biểu hiện đó. Nên tiêm thuốc vào buổi tối để hôm sau Bạn có thể làm việc bình thường.

Trong thời gian điều trị, Bạn nên làm xét nghiệm máu để đánh giá đáp ứng. Sau khi kết thúc điều trị, cần tiếp tục theo dõi thêm 6 tháng nữa, bởi vì một số bệnh nhân có thể bị tái phát sau khi ngưng thuốc. Một số thuốc kháng sinh chống siêu vi hiện đang được nghiên cứu phối hợp với Interferon alpha.

2- Pegylated interferon (Pegasys):

Được chấp thuận vào tháng 5-2005. Thuốc dùng dạng chích 1 lần mỗi tuần và hiệu quả hơn interferon thông thường. Tác dụng phụ của thuốc tương tự như interferon.

3- Lamivudine (Zeffix):

Thuốc đầu tiên dạng viên uống mỗi ngày 1 lần và hầu như không có tác dụng phụ. Thuốc được chấp thuận vào năm 1998, có thể dùng được ở người lớn và trẻ em. Lo ngại chính yếu khi dùng thuốc này là khi điều trị lâu dài, siêu vi có thể bị biến đổi và đáp ứng với thuốc sẽ trở nên kém đi.

4- Adefovir Dipivoxil (Hepsera):

Thuốc viên uống mỗi ngày 1 lần, có hiệu quả trên siêu vi B bình thường lẫn siêu vi B bị kháng thuốc lamivudine. Tuy ít tác dụng phụ nhưng một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân có thể bị biến chứng trên thận khi dùng thuốc. Được chấp thuận vào tháng 9-2002 và chỉ dùng cho người lớn.

5-Entecavir (Baraclude):

Được chấp thuận vào tháng 4-2005, thuốc này được xem là loại thuốc có hiệu quả chống siêu vi B mạnh nhất và ít gây đề kháng nhất trên bệnh nhân mới, chưa dùng thuốc kháng siêu vi nào. Thuốc dạng viên uống một lần mỗi ngày, hầu như không có tác dụng phụ và chỉ dùng cho người lớn.

6-Telbivudine:

Được chấp thuận tháng 9-2006. Thuốc dạng viên uống một lần mỗi ngày và có ít tác dụng phụ. Thuốc chỉ dành cho người lớn.

.

.

.------------------------------------------------------------------------------------------------------

.

Bài 4 : - NHỮNG THAY ĐÔI VỀ SINH LÝ VÀ TÂM LÝ CỦA TUỔI DẠY THÌ

.

Tuổi dậy thì là một giai đoạn quan trọng trong cuộc đời một con người, trong giai đoạn này có nhiều biến động về tâm sinh lý . Việc nắm chắc những thay đổi này giúp chúng ta ( bố - mẹ ) có thể giúp đỡ trẻ vượt qua giai đoạn này một cách dễ dàng và trường thành toàn diện cả về thể chất lẫn tâm hồn.

I- NHỮNG THAY ĐỔI VỀ SINH LÝ

A Những thay đổi sinh lý ở bé gái

Dậy thì là chỉ giai đoạn phát triển quá độ về sinh lý từ thời kỳ nhi đồng sang thời kỳ thành niên.Ở trẻ em, mặc dù cơ quan sinh dục trong và ngoài của nam và nữ đã có sự phân biệt, chiều cao và thể trọng của cơ thể tăng rất nhanh nhưng không có sự khác biệt nhiều về giới tính. Đó là do công năng tuyến sinh dục của cả nam và nữ đều ở trong trạng thái bị ức chế, nồng độ hoóc môn sinh dục trong cơ thể cũng rất thấp.

Trung bình sau 11 tuổi ( phạm vi là 9 -12 tuổi), đặc trưng giới tính của trẻ em gái mới dần dần phát triển ( ở trẻ nam có biểu hiện chậm hơn 1 - 2 năm ) , biểu hiện chủ yếu là hai bên vú bắt đầu nhô lên, đầu vú to dần và màu sắc cũng thẫm dần; nách và cơ quan sinh dục ngoài bắt đầu xuất hiện lông. Môi lớn, môi bé cũng thẫm lại và lớn lên, âm hộ bắt đầu xuất hiện những chất dịch màu trắng. Cơ quan sinh dục trong cũng phát triển, chẳng hạn như âm đạo trở nên rộng, niêm mạc dày và có nhiều nếp nhăn, ống dẫn trứng dày lên. Thông thường, vào khoảng 13 tuổi ( phạm vi 10-16 tuổi), cô gái sẽ thấy kinh lần đầu và 2-5 năm sau sẽ xuất hiện hiện tượng rụng trứng và bắt đầu các chu kỳ kinh nguyệt đều hàng tháng , là lúc công năng sinh dục phát triển hoàn thiện. Sự phát triển đặc trưng giới tính của trẻ em gái từ khi bắt đầu cho đến khi phát dục hoàn toàn mất khoảng 4 năm ( phạm vi 1,5 – 6 năm).Ở giai đoạn này, lượng mỡ tích lại dưới da dày lên, ngực và mông đã rõ nét, xương chậu và xương hông cũng nở ra, hình thành nên những đường cong mềm mại, nữ tính. Những thay đổi về hình dáng bên ngoài này chứng tỏ một đứa bé gái đang trở thành một thiếu nữ. Cụ thể như sau:

1- Phát triển về chiều cao:

Thường bắt đầu từ 10,5 tuổi ( có thể sớm hơn ) và nhanh nhất vào lúc 12 tuổi đến lúc 14 tuổi. Chiều cao cơ thể của trẻ em gái sẽ tăng lên rất nhanh, vào thời kỳ cao điểm, mỗi năm em sẽ cao thêm 6-8 cm. Sau đó, sự phát triển chiều cao sẽ chậm dần lại, đến khi hai đầu của ống xương khép kín lại thì trẻ sẽ không cao thêm nữa. Đến khoảng 18 tuổi, chiều cao cơ thể có thể tăng khoảng 25 cm và hiếm có trường hợp cao thêm.

2- Phát triển tuyến vú:

Vú bắt đầu nhú từ 8 -13 tuổi ( trung bình 11 tuổi ). Vú phát triển hoàn chỉnh trong khoảng thời gian từ 13 - 18 tuổi ( trung bình 15 tuổi ). Ở một số em, nếu thấy một bên vú phát triển nhanh hơn bên kia thì cũng là bình thường , không có điều gì phải lo lắng.

3- Phát triển xương chậu:

Ngay từ khi sinh, em gái đã có cấu tạo chậu hông rộng nhưng cũng tiếp tục mở rộng, phát triển ở thời kỳ này. Sự phát triển bên trong và bên ngoài của tiểu khung là đặc điểm giải phẫu đáng chú ý ở tuổi dậy thì.

Mọc lông bắt đầu từ 11-12 tuổi (trung bình 12 -15 tuổ i). Mọc lông thường xuất hiện sau giai đoạn phát triển cao nhất về chiều cao. Sau khi lông mu mọc được 6 tháng đến 1 năm thì em gái bắt đầu thấy kinh nguyệt. Lông nách thường thấy chậm hơn lông mu 2 năm.

5- Tuyến mồ hôi, tuyến bã phát triển, xuất hiện mụn trứng cá và mùi cơ thể.

6- Sự hoàn thiện của tử cung và âm đạo:

Tử cung và âm đạo phát triển rất sớm và tiếp tục hoàn thiện dần. Các cơ thành tử cung trở nên rộng hơn và tổ chức phức tạp hơn. Môi trường âm đạo ở tuổi dậy thì lúc đầu kiềm tính sau toan tính dần.

Những thay đổi của chu kỳ buồng trứng chịu sự điều khiển của hoóc môn tuyến yên, còn sự thay đổi chu kỳ của hoóc môn tuyến yên thì lại chịu sự điều khiển của sự tiết ra GnRH. Trong thời kỳ nhi đồng, sự tiết ra GnRH của khâu não hạ chịu sự ức chế của trung khu cao cấp trong não, do vậy công năng của tuyến yên, buồng trứng cũng ở trong trạng thái bị ức chế.

Giai đoạn kinh nguyệt thường xảy ra ngay sau thời kỳ phát triển chiều cao. Có kinh nguyệt không có nghĩa là buồng trứng đã có công năng rụng trứng, vì việc rụng trứng đòi hỏi giữa tuyến yên và vùng dưới đồi có một cơ chế tinh tế và phức tạp hơn, đó chính là sự điều chỉnh theo cơ chế phản ngược lại. Theo điều tra :

- Trong năm đầu tiên sau khi thấy kinh lần đầu : có 80% trường hợp không rụng trứng , ch ỉ có 20 % có rụng trứng ( tức là có khả năng thụ thai )

- Trong vòng 2- 4 năm sau khi thấy kinh lần đầu : có 30 – 50% trường hợp không rụng trứng.

- Trong 5 năm sau khi thấy kinh lần đầu : vẫn còn có gần 20% trường hợp không rụng trứng.

Trong thời gian vài năm sau khi thấy kinh lần đầu, trong buồng trứng có các noãn bào phát dục và tiết ra oestrogen ( không có sự ảnh hưởng của hoàng thể và progestagel.),do dao động về mức độ oestrogene dẫn đến bong niêm mạc tử cung và xuất huyết ( hành kinh ) không theo quy luật . Sau thời gian này , các noãn bào trưởng thành hoàn toàn thoát khỏi buồng trứng ( hiện tượng rụng trứng ) , hình thành chu kỳ kinh nguyệt , ình thành sinh l ý ình thường của người phụ nữ hoàn chỉnh , tức là hoàn thành quá t ình phát dục

B - Nh ững thay đ ổi sinh l ý ở tr ẻ em trai :

Ở bé trai, dạy thì châm hơn bé gái ( khoảng 1- 2 năm ) tức là khoảng 13 - 15 tu ổi . với các bi ểu hiện :

- Phát tri ển bộ phận sinh dục , co rút bao quy đầu , taoh ình miệng sáo , mọc lông ùng mu . Tinh hoàn bắt đầu sản xuất kích thích tố và sản xuất tinh trùng . tinh trùng có th ể p át hiện trong nước tiểu buổi sáng của hầu hết các bé trai tong năm đ ầu tiên của tuổi dạy thì . Trung bình khả năng sinh sản ở bé trai tiềm năng có thể ở năm 13 tu ổi , nhưng khả năng sinh sản đầy đủ khoảng 15 - 16 tuổi

- Thay đổi giọng nói và phát triển thể lực cơ bắp , giọng nói khàn vỡ tiếng , lộ hầu ( phát triển sụn thanh quản )

-Tăng ti ết bã nhờn ở da , hay bị viêm tuyến bã ( mụn trứng c á )

.

II ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ TUỔI DẬY THÌ

Tuổi dậy thì là thời kỳ xảy ra những biến động mãnh liệt về tâm lý của mỗi con người, cũng là thòi kỳ then chốt của phát triển tâm lý. Đương nhiên, quá trình phát triên tâm lý có quan hệ chặt chẽ với điều kiện kinh tế xã hội, văn hoá mà thanh thiếu niên đang sống và cũng liên quan đến quá trình phát dục, thành thục về sinh lý.

Bước vào năm đầu của tuổi này, số đông chuyển từ tiểu học lên trung học, trẻ phải đối phó với những đổi thay to lớn trong môi trường học tập và rất nhiều những yêu cầu mới của xã hội. Con người đứng trước những thay đổi sinh lý hình thái rất đột ngột, như cao vổng lên, sức mạnh cơ bắp, đầu vú nở, kinh nguyệt, di tinh, vỡ giọng..... dẫn đến hàng loạt những biến động tâm lý.

Tâm lý thời kỳ này có 4 đặc điểm chung như sau:

+ Một là:

Về mặt phát triển trí lực và thể lực thì tuổi dậy thì là thời kỳ hoàng kim để phát triển trí lực , chẳng hạn : về sức nhớ, nam từ 11-12 tuổi, nữ từ 10-11 chuyển từ ghi nhớ máy móc đã phát triển một phần sang ghi nhớ có ý nghĩa. Nam từ 14-15 tuổi, nữ từ 13-14 tuổi, nhớ được từng phần theo ý nghĩa đã phát triển tới nhớ đựơc theo ý nghĩa toàn bộ , về tư duy: từ tư duy cụ thể, tư duy lấy tôi làm trung tâm đã phát triển tới dư duy logic, trừu tượng.

Về mặt học tập : động cơ, thái độ, hứng thú và năng lực học tập đều được nâng cao. Vì các môn học nhiều thêm, nội dung đã phân biệt, nên tư duy trừu tượng logic được dịp phát triển mạnh. khả năng phân tích, tổng hợp, suy luận và phán đoán cũng được nâng cao.

Do thân hình lớn vổng lên, chuyển hoá trong cơ thể mạnh mẽ, sinh lực dồi dào , hiếu động ( nhất là trong những hoạt động tranh đua) , cùng với sự tự ý thức hơi quá và lòng tự tôn hừng hực, tạo nên sự bất kham, mọi trường hợp đều muốn bộc lộ nguyện vọng mãnh liệt của bản thân , có khi làm đến cật lực mà vẫn cảm thấy hào hứng . Tóm lại : Thởi kỳ này đã chớm xuất hiện các dấu hiệu chứng tỏ đầy đủ mình sẽ là người thanh niên có lý tưởng, có lòng tiến thủ và dồi dào sức khỏe.

+ Hai là:

Về tính tình : ở thời kỳ đầu và giữa của tuổi dậy thì, có sự bộc lộ rõ nét về tính tình không ổn định, rất dễ chuyển từ cực này sang cực kia ( tính lưỡng cực ) . Họ có biểu hiện trong tính tình là có thể rất dễ thay đổi từ : khẳng định sang phủ định, tích cực sang tiêu cực, khẩn trương sang buông lỏng lơ là ...... Ví dụ : xem 1 bộ phim có ý nghĩa, nghe buổi nói chuyện cảm động, liền hạ quyết tâm, noi gương nhân vật anh hùng điển hình, làm người tốt việc tốt. nhưng khi bị bạn bè hoặc bạn học châm chọc dè bỉu, thì họ lại dễ thối chí bỏ cuộc, cho mình là ngốc nghếch. Tính 2 cực ở thanh niên có nguồn gốc từ cơ chế sinh lý : tính nết là kết quả của hoạt động phối hợp giữa vỏ đại não và thần kinh giao cảm dưới vỏ . Ở tuổi dậy thì chức năng nội tiết phát triển rất mau lẹ, nhưng tác dụng ức chế của vỏ não thì chưa tới mức hoàn hảo, nên có đặc trưng là tính nết ở tuổi này rất thất thường , thường là “ hấp tấp” . Đồng thời nguyên nhân xã hội cũng có tác động hình thành nên tính cách này , đối với xã hội thanh niên có nhiều nhu cầu rất mãnh liệt, ra sức muốn “ thể hiện “ mình , nhưng chưa nhận thức đầy đủ tính phức tạp của xã hội, chưa hiểu thấu tính hợp lý và tính khả thi trong hành vi của bản thân..... kết hợp với sự tác động của môi trường xã hội , dẫn đến những xáo động rất lớn trong tính tình mà có những hành động “ càn rỡ “ nhưng lại thực sự không hiểu hết bản chất của những hành động của mình .

Nhìn chung : tính nết mạnh mẽ , tình cảm phong phú và nhiệt tình sôi sục, đó vốn là mặt chủ đạo của tuổi này.

+ Ba là:

Ở thời kỳ này có sự định hướng phát triển cá tính : sự tự quan sát, tự đánh giá, tự thể hiện, tự đôn đốc, tự khống chế... đều được tăng cường , ở thời kỳ này đã bắt đầu có cảm nghĩ mình là người lớn, thầm lặng cảm thấy mình đang lớn dần thành người lớn. Vì tự ý thức đựơc như thế nên tính tự giác cũng đựoc nâng cao nhanh chóng, luôn hướng lên trên, ngả theo lẽ phải, nôn nóng tìm kiếm cái cốt lõi của cuộc sống , ý thức xã hội đựơc tăng cường mau chóng, rất nhạy bén với mọi biến động của xã hội, dám nói lên ý kiến và nhân định của bản thân và khao khát muốn đựoc người khác đánh giá, hết sức quan tâm đến sự phát triển tài năng bản thân và trau dồi đạo đức, phẩm chất. khả năng tự kiềm chế dần đựơc nâng cao, hành vi thiếu tự chủ dần giảm bớt, biết khống chế hành vi của mình theo khuôn phép của xã hội. nếu so với người lớn thì ở tuổi này còn dễ bị ảnh hửởng bởi hoàn cảnh bên ngoài, bởi tính nết, tình cảm. đây là thời kỳ quan trọng để phát triển tính cách và ý thức đạo đức.

+ Bốn là :

Sự phát triển và định hướng rõ tâm lý giới tính và sự khác biệt giữa nam và nữ . Sự khác biệt tâm lý nam và nữ xuất hiện ở lứa tuổi sớm hơn , nhưng đến tuổi dậy thì sự khác biệt này mới mạnh mẽ . Có thể chia tâm lý về giói tính ra làm 3 giai đoạn: - Giai đoạn có ý thức phân biệt người khác giới,

- Giai đoạn phát dục, biến đổi về sinh lý dẫn đến biến đổi về tâm lý, ý thức được sự khác nhau giữa hai giới, bắt đầu có thái độ né tránh bạn khác giới. khi không né tránh đựơc thì thẹn thùng, xấu hổ. trong giai đoạn này thân thể đã phát triển đến mức gần như người lớn thanh niên nam nữ thich gần nhau, nảy sinh tình cảm và mến mộ nhau. ở giai đoạn này họ thích làm dáng, thích trình diện, thích thể hiện trước bạn khác giới để mong nhân được tình cảm tốt của đối phương.

- Giai đoạn cuối tuổi dậy thì , cơ thể hoàn thành việc xác định rõ giới tính , thanh niên nam nữ có thể từ sự gần gũi nhau đi vào giai đoạn tình yêu thầm kín, miên man trong 1 tình yêu lý tưởng giữ kín trong lòng.

---------------------------------------------------------------------

.

Bài 5: SINH CON CÓ GIỚI TÍNH THEO Ý MUỐN

.

Muốn sinh con trai hay gái theo ý muốn là nguyện vọng của nhiều đôi bạn trẻ , phải theo khoa học chứ không theo cách tính tuổi của vợ chồng

Muốn sinh con trai hay gái theo ý muốn thì điều cốt lõi đầu tiên là vòng kinh của bạn phải đều đặn , 28 ngày , 30 ngày , hay x ngày

- Bạn phải dự tính được ngày bắt đầu có kinh lần sau vào ngày bao nhiêu ? ví dụ : 20 / 5

- Bạn phải tính được ngày rụng trứng là vào ngày nào trong tháng này ? ( 20 - 14 = 6 )

- Nguyên lý có con trai hay gái là : Tinh trùng nam có 2 loại X và Y , tinh trùng X gặp trứng sẽ cho con gái , tinh trùng Y gặp trứng sẽ cho con trai , tỷ lệ 2 loại này tương đương nhau ( 1 / 1 ) đặc điểm khác nhau giữa 2 loại tinh trùng là : loại Y nhẹ hơn ,di chuyển nhanh hơn , nhưng thời gian sống ngắn hơn loại X . Thời gian trứng sống để có thể thụ tinh là 1 / 2 ngày , thời gian tinh trùng sống để có thể thụ tinh được là 3 - 4 ngày ( hoặc có thể lâu hơn nữa )

Vì vậy :

+ Muốn sinh con trai thì cần : trước ngày rụng trứng 5 - 7 ngày tránh sinh hoạt vợ chồng , để dành tinh trùng đến đúng ngày rụng trứng mới sinh hoạt thì trứng rụng xuống nằm chờ sẵn ở vòi trứng sẽ có cơ hội găp tinh trùng Y nhiều hơn ( vì Y di chuyển nhanh hơn )

+ Muốn sinh con gái thì cần sinh hoạt đều đều trước ngày rụng trứng cách ngày rụng trứng 2 - 3 ngày không sinh hoạt nữa , khi trứng rụng xuống di chuyển đến vòi trứng gặp tinh trùng chờ sẵn ở đó phần lớn là tinh trùng X ( vì X sống lâu hơn ) Cách tính ngày trứng rụng

Vòng kinh đều thì bạn sẽ tính được ngày có kinh tháng sau là ngày bao nhiêu ? , dựa vào ngày đầu tiên có kinh tháng này cộng với vòng kinh là thành ngày sẽ có kinh của vòng kinh sau . Từ đó tính ngược lại 14 ngày sẽ là ngày rụng trứng ( vì : Trứng rụng không thụ tinh thì hoàng thể sinh ra sau khi trứng rụng sẽ thoái hoá sau đúng 14 ngày , hoàng thể thoái hoá làm bong niêm mạc tử cung hình thành kinh nguyệt ). Ví dụ bạn có ngày kinh đầu tiên là vào ngày 1 /5 , vòng kinh 28 ngày thì : ngày có kinh lần sau là ngày 28 / 5 và ngày rụng trứng sẽ là ngày 14 / 5 ( Vì từ lúc trứng rung , nếu không được thụ tình thì 14 ngày sau sẽ hành kinh )

Cách tính này có tỷ lệ sinh con trai - gái theo ý muốn đạt tới 95 - 98 % vì ngày rụng trứng có thể thay đổi do sinh lý kích thích rụng sớm .

Chúc bạn áp dụng thành công __________________


 

Tư vấn trực tuyến

Bạn có hay bị nhiệt miệng?
 

LƯỢT TRUY CẬP

TỔNG LƯỢT TRUY CẬP577319
Member:0
Guest:54